Header
Chuyển bộ gõ
Tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012
Cập nhật ngày: 28/02/2012

Báo cáo "Tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012"


 
ỦY BAN QUỐC GIA
VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 
   Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 
 
Số: 01 /BC-UBQG
 
Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2012
 
 
BÁO CÁO
Tổng kết công tác năm 2011
và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012
 
 
A. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2011

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Năm 2011 là năm có nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 đã được tổ chức thành công; Đại hội phụ nữ các cấp diễn ra ở tất cả các tỉnh, thành phố nhằm chuẩn bị cho Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ XI. Bên cạnh đó, năm 2011 cũng là năm đầu tiên các cấp, các ngành triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020... Đặc biệt, trong năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số 1241/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ). Theo đó, nguồn kinh phí đã được xác định cho các hoạt động, dự án ở cả Trung ương và địa phương. Đây là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch hoạt động về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong phạm vi cả nước. Những sự kiện này có tác động tích cực tới công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong thời gian vừa qua.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ cũng bị ảnh hưởng bởi những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới và trong nước. Suy thoái kinh tế toàn cầu và biến đổi khí hậu đang tác động trực tiếp tới đời sống của người dân nói chung và phụ nữ nói riêng. Mặc dù Ngân hàng Thế giới mới đây đưa ra thông điệp “thực hiện bình đẳng giới là chính sách kinh tế khôn ngoan cho sự phát triển”, song ở nước ta, nhận thức về vai trò của phụ nữ và bình đẳng giới vẫn còn hạn chế, gây khó khăn cho việc thực hiện bình đẳng giới trên thực tế.
Trong bối cảnh nêu trên, với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, đặc biệt là sự vào cuộc của các Bộ, ngành thành viên, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (UBQG) đã nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới. Năm 2011, Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là quốc gia có chỉ số bất bình đẳng giới đứng vị trí thứ 48 trong tổng số 187 quốc gia được xếp hạng, tốt hơn một số nước trong khu vực có cùng mức độ phát triển con người ở mức trung bình, như: Thái Lan, Philippines, Inđônêxia.

II. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2011
1. Công tác phối hợp liên ngành thực hiện các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ
a) Phối hợp chỉ đạo triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020

- Sau khi Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Chiến lược, trong đó có văn bản số 664/LĐTBXH-BĐG ngày 11/3/2011 hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương xây dựng Kế hoạch hành động giai đoạn 5 năm và hàng năm để thực hiện Chiến lược. Tính đến ngày 31/12/2011, đã có 11 Bộ, ngành và 47 tỉnh, thành phố ban hành Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015. Nhiều địa phương đã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền chỉ đạo kịp thời việc triển khai Chiến lược như Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Thái Bình đã ban hành Chỉ thị về việc triển khai thực hiện Chiến lược; Uỷ ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ban hành Chỉ thị về việc tăng cường lãnh đạo thực hiện công tác bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó tập trung thực hiện tốt các giải pháp để đạt được các mục tiêu của Chiến lược đề ra… Một số tỉnh, thành phố đã bám sát nội dung của Chiến lược và tình hình thực tế tại địa phương để xây dựng các mục tiêu và chỉ tiêu về bình đẳng giới, đồng thời nêu rõ các giải pháp, đề án để đảm bảo thực hiện thành công các chỉ tiêu đề ra, như: Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt Kế hoạch hành động với 3 dự án gồm: Dự án truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, Dự án nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới, Dự án xây dựng, phát triển dịch vụ tư vấn, hỗ trợ trực tuyến về bình đẳng giới, tổng kinh phí được phê duyệt trong 5 năm là: 6,280 tỷ đồng.

- Ngày 21/4/2011, UBQG và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị tổng kết Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020. Dự Hội nghị có hơn 200 đại biểu, đại diện lãnh đạo, thư ký Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ và cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các Bộ, ngành, địa phương. Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và các thành viên UBQG đã tham dự Hội nghị. Báo cáo tổng kết của 18/42 Bộ, ngành và 40/63 tỉnh, thành phố cho thấy sau 10 năm thực hiện, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực, cố gắng triển khai các hoạt động nhằm đạt được các chỉ tiêu đề ra tại Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010. Hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu về thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động - việc làm và chăm sóc sức khỏe đều được hoàn thành. Tuy nhiên, vẫn còn 11 chỉ tiêu trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tham chính và tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ chưa đạt kế hoạch đề ra. Ghi nhận những đóng góp đối với công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ trong 10 năm qua, tại Hội nghị đã có 26 tập thể và 38 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen; 98 tập thể và 202 cá nhân được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban quốc gia VSTBPN tặng bằng khen.

b)Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- UBQG xác định việc thúc đẩy thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong năm 2011. UBQG và cơ quan thường trực là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng triển khai các hoạt động như:
+ Ban hành văn bản hướng dẫn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các tỉnh, thành phố triển khai nhằm phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 (Văn bản số 04/UBQG-VP ngày 22/2/2011).
+ Phối hợp với Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam giới thiệu nguồn cán bộ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XIII làm đại biểu chuyên trách.
+ Đóng góp ý kiến đối với dự thảo Tờ trình của Chính phủ gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND khoá XIII.

+ Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông cho kỳ bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, như: tổ chức Toạ đàm với giới báo chí về các biện pháp nhằm tuyên truyền cho công tác bầu cử; in và phát hành rộng rãi trong cả nước 10.000 áp phích và 6.000 bút bi tuyên truyền với thông điệp “Hãy ủng hộ những phụ nữ ưu tú tham gia Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016”; xây dựng clip truyền thông phát sóng trên kênh VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam với mục đích vận động ủng hộ phụ nữ ưu tú tham gia đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; tổ chức 08 lớp tập huấn bồi dưỡng cho gần 300 cán bộ nữ tiềm năng tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND tại 12 tỉnh, thành phố; xây dựng tài liệu tập huấn nhằm bồi dưỡng cho cán bộ nữ tiềm năng tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND.

Mặc dù kết quả bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 chưa đạt chỉ tiêu đã đề ra tại Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 (tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 24,4%; nữ đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2011 – 2016 cấp tỉnh là 25,17%, cấp huyện là 24,62% và cấp xã là 21,71%), song các hoạt động của UBQG đã phần nào đóng góp vào việc nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân về vai trò của phụ nữ, từ đó thúc đẩy việc thực hiện bình đẳng giới thực chất trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tạo hiệu ứng tốt cho xã hội.
- Tích cực tham gia nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ thông qua việc đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Công đoàn, Luật Giáo dục đại học, Luật Quảng cáo, Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá, Luật Phòng, chống mua bán người, Nghị định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài... Việc tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo Luật, Nghị định cho thấy, các cơ quan xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã chú ý nhiều hơn đến việc lồng ghép các vấn đề giới, bình đẳng giới vào trong công tác soạn thảo văn bản, đồng thời thực hiện khá nghiêm túc việc bảo đảm sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định.

c) Hoạt động phối hợp của các thành viên UBQG
Năm 2011, các Bộ, ngành thành viên UBQG đã tích cực thực hiện nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.
- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Báo cáo của Chính phủ về thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới để trình Quốc hội (Báo cáo số 23/BC-CP ngày 09 tháng 3 năm 2011). Nội dung của báo cáo tập trung làm rõ tình hình triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới và kết quả thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vực. Năm 2010, lĩnh vực chính trị đã có những cải thiện rõ rệt, phụ nữ đã và đang tham gia tích cực trong công tác lãnh đạo, quản lý và vào việc ra quyết định từ Trung ương đến cơ sở. Nhiệm kỳ 2010 – 2015, tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ các cấp đạt kết quả như: cấp tỉnh 11,34%, cấp huyện 14% và cấp xã là 9,1%. Đại hội Đảng lần thứ XI, tỷ lệ nữ Ban chấp hành Trung ương Đảng tuy chỉ đạt 9%, song đây là lần thứ hai có 1 đồng chí nữ được bầu vào Uỷ viên Bộ Chính trị; và có 2 trong số 4 đồng chí được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng. Có thể coi đây là một bước tiến mới trong việc thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị. , có 09 Bộ, ngành là thành viên UBQG đã thực hiện việc báo cáo trước Uỷ ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội tình hình, kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2010 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành.
Thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành văn bản hướng dẫn các đơn vị xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 (Văn bản số 664/LĐTBXH-BĐG ngày 11/3/2011); Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 301/QĐ-LĐTBXH ngày 16/3/2011); Kế hoạch thông tin, tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới năm 2011 (ban hành kèm theo Quyết định số 344/QĐ-LĐTBXH ngày 21/3/2011); Kế hoạch đào tạo, tập huấn năm 2011 (ban hành kèm theo Quyết định số 345/LĐTBXH ngày 21/3/2011).

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành chức năng, các thành viên UBQG xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 (Quyết định số 1241/QĐ-TTg ngày 22/7/2011). Chương trình được thực hiện trên phạm vi toàn quốc với 5 dự án về: truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới; nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, quản lý, lãnh đạo các cấp; nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2020, cán bộ nữ thuộc diện quy hoạch; hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới trong những lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao bất bình đẳng giới; hỗ trợ xây dựng, phát triển dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về bình đẳng giới. Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 được coi là một trong những giải pháp đột phá nhằm thực hiện thành công các chỉ tiêu, mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020, đồng thời cũng là điều kiện để các tổ chức quốc tế tiếp tục hỗ trợ cho công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn 5 năm tiếp theo.

- Bộ Tài chính đã tích cực thực hiện một số nhiệm vụ như: ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015. Hiện nay, Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Thông tư hướng dẫn về cơ chế quản lý tài chính thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015.
- Bộ Nội vụ đã tham mưu cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn tiêu chuẩn, cơ cấu đại biểu HĐND các cấp và quy trình công tác nhân sự HĐND, Ủy ban nhân dân nhiệm kỳ 2011 – 2016; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành chức năng xây dựng Tờ trình của Chính phủ gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp khóa XIII (nhiệm kỳ 2011 – 2016); chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương chủ động giới thiệu nguồn là đại biểu nữ vào cơ quan dân cử; khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ nữ trong quy hoạch từ Trung ương đến cơ sở, trong các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác.
- Bộ Công an đã có nhiều hoạt động tích cực, thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo ngành Công an và vai trò tham mưu của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ Công an nhân dân. Bộ đã sớm ban hành Chương trình bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015; đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn về bình đẳng giới như: tổ chức 04 lớp tập huấn trong toàn lực lượng cho lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương và cán bộ chủ chốt làm công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ các kiến thức về giới và lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách; 04 cuộc hội thảo nâng cao chất lượng hoạt động bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ trong Công an nhân dân; ban hành văn bản về tăng cường các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ trong toàn lực lượng (Công văn số 2632/BCA); hoàn thành việc biên soạn tài liệu giảng dạy chuyên đề bình đẳng giới trong các trường Công an nhân dân và triển khai giảng dạy trong chương trình chính khoá từ năm 2011 – 2012. Ngoài ra, công tác cán bộ nữ có chuyển biến rõ nét. Lần đầu tiên trong ngành có 02 chị được bổ nhiệm làm Giám đốc Công an, 01 chị được bầu vào uỷ viên Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ Công an Trung ương.

- Bộ Tư pháp triển khai lồng ghép vấn đề bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong hoạt động của ngành thông qua các hình thức như: tăng cường công tác tập huấn lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tới các đơn vị thuộc Bộ; triển khai thực hiện đề xuất “Nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong việc thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam” trong khuôn khổ dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam”; thực hiện đánh giá lồng ghép giới trong các dự thảo L`uật như: Bộ Luật dân sự sửa đổi, Luật Hộ tịch, Luật Chứng thực, Luật Hoà giải, Luật Xử lý vi phạm hành chính…, trong đó chú trọng đến các biện pháp bảo đảm quyền của bà mẹ và trẻ vị thành niên, phụ nữ mang thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

- Bộ Ngoại giao đã thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công tại Nghị quyết số 57/NQ-CP về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác cán bộ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cụ thể là: chủ trì đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình; phối hợp vận động nguồn vốn ODA cho các hoạt động bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ như vận động tài trợ cho các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, nghiên cứu đề tài, cấp học bổng cho cán bộ nữ lãnh đạo và tiềm năng… Bộ cũng đã ban hành Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 và triển khai tới các đơn vị trực thuộc Bộ.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các Vụ, Viện chuyên môn triển khai việc nghiên cứu, rà soát để đề xuất việc xây dựng chính sách theo hướng đảm bảo bình đẳng giới; Rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó có Luật Giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo đảm phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới; Rà soát cơ chế ưu tiên hỗ trợ xoá mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở đối với phụ nữ là người dân tộc thiểu số, ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; nghiên cứu, ban hành chính sách hỗ trợ để tăng nhanh tỷ lệ phụ nữ được đào tạo sau đại học; triển khai các hoạt động nhằm tăng tỷ lệ nhập học mầm non, tiểu học của trẻ em gái; giảm tỷ lệ mù chữ của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn; xây dựng đề án phát triển giáo dục thường xuyên, trong đó có cơ chế khuyến khích phụ nữ là người dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo tham gia; xây dựng các chỉ số đánh giá bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thông qua việc lồng ghép giới và các chỉ số giám sát đánh giá kết quả thực hiện công tác của ngành.

- Bộ Y tế tiếp tục triển khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ mang thai và trẻ em dưới 6 tuổi nói riêng, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cho phụ nữ và trẻ em nói chung; triển khai các giải pháp nhằm khống chế tình trạng chênh lệch giới tính khi sinh, đặc biệt ở các địa bàn trọng điểm.
- Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch tập trung thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình; xây dựng và trình Chính phủ Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020; tiếp tục xây dựng và thực hiện đề án phát triển các dịch vụ hỗ trợ gia đình, cải thiện môi trường sống giai đoạn 2011 – 2020. Tổ chức nhiều hoạt động sự kiện về gia đình, trong đó có đối tượng phụ nữ.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tích cực xây dựng và trình Chính phủ ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia theo nhiệm vụ được giao trong Nghị quyết 57/NQ-CP của Chính phủ. Ngày 14/10/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định ban hành Bộ chỉ tiêu này (Quyết định số 56/2011/QĐ-TTg). Đây là cơ sở quan trọng để các Bộ, ngành và địa phương xây dựng và thực hiện việc thu thập, tổng hợp số liệu thống kê về giới.
- Bộ Thông tin và Truyền thông đã trực tiếp chỉ đạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phụ nữ và bình đẳng giới với nội dung và hình thức phù hợp với từng khu vực, từng vùng và nhóm đối tượng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao nhận thức của xã hội. Bộ cũng đã tập huấn cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông về các nội dung, kỹ năng để làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục đạo đức phẩm chất phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên các phương tiện truyền thông đại chúng theo Quyết định 343/QĐ-TTg ngày 12/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
- Bộ Khoa học và Công nghệ đã thực hiện công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới thông qua các cuộc toạ đàm, hội thảo như: “Các nhà khoa học nữ với sự phát triển của khoa học và công nghệ”, “Phụ nữ trong hoạt động khoa học và công nghệ”, “Vai trò của gia đình và phụ nữ trong nền kinh tế thị trường”, “Phụ nữ với công tác bảo vệ môi trường”... Đây là diễn đàn để các nhà khoa học nữ bày tỏ ý kiến, quan điểm nhằm đảm bảo thực thi bình đẳng giới trong lĩnh vực chuyên môn của ngành.
- Uỷ ban Dân tộc đã triển khai lồng ghép vấn đề bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong việc xây dựng các nội quy, quy chế, các đề án, dự án, kế hoạch triển khai nhiệm vụ chính trị của cơ quan; ban hành văn bản gửi các tỉnh, thành phố đề nghị quan tâm, xem xét, lựa chọn nữ cán bộ dân tộc tiêu biểu, xuất sắc để giới thiệu tham gia Quốc hội và HĐND các cấp; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án “Xây dựng chính sách đặc thù hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc và miền núi”.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với chức năng giám sát, phản biện xã hội, đề xuất chính sách liên quan trực tiếp tới phụ nữ và trẻ em đã tập trung giám sát việc thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân và Gia đình… và một số chính sách an sinh xã hội ở địa phương. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016,Đảng đoàn TW Hội đã phối hợp chặt chẽ với Ban Công tác Đại biểu của Quốc hội và Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất đề xuất về cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Quốc Hội là nữ; chủ động tham mưu, đề xuất giới thiệu với Bộ Chính trị nguồn cán bộ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII; chủ động tổ chức nhiều hoạt động thiết thực vận động cử tri nữ tích cực tham gia bầu cử và đảm bảo tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc Hội, Hội đồng Nhân dân các cấp theo định hướng.  
Để hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế, các cấp Hội tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động theo hướng gắn kết các phong trào giúp phụ nữ nghèo với hỗ trợ vốn và tập huấn kiến thức sử dụng vốn, chuyển giao KHKT; duy trì có hiệu quả phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”. Theo báo cáo của 46 tỉnh/thành năm 2011 có 521.173 hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp (đạt 85,80 tổng số hộ nghèo do PN làm chủ), trong đó 97.298 hộ đã thoát nghèo (đạt 18,66%).
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã biên soạn tài liệu, văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện quy trình hiệp thương nhằm tăng tỷ lệ nữ trong Quốc hội và HĐND các cấp.
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật như: Chương X, XI của Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn về các vấn đề liên quan đến lao động nữ và sửa đổi, bổ sung một số văn bản của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm... phù hợp với quy định của Luật Bình đẳng giới; tổ chức 08 lớp tập huấn về bình đẳng giới, lồng ghép giới cho cán bộ Công đoàn các cấp; ban hành Chương trình hành động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015.
- Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015; thực hiện tốt công tác cán bộ nữ, đảm bảo bình đẳng giới trong việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ. Năm 2011, có 4/5 đồng chí được đề bạt chức vụ Phó trưởng ban là nữ; 5/7 đồng chí được đề bạt cấp phòng là nữ. Bên cạnh đó, Hội đã đăng cai tổ chức Hội nghị của Ủy ban phụ nữ Châu Á của phong trào con đường nông dân với 40 đại biểu đến từ 14 quốc gia.  
- Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ đạo các cấp bộ Đoàn triển khai chương trình hành động Vì sự tiến bộ nữ thanh niên Việt Nam giai đoạn 2009 - 2011 theo tinh thần của Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015; hướng dẫn, chỉ đạo các Tỉnh, Thành đoàn và Đoàn trực thuộc chủ động xây dựng các chương trình hành động phù hợp với đặc điểm của địa phương, đơn vị; đẩy mạnh hướng dẫn kỹ năng xã hội và các hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và phòng chống tệ nạn xã hội trong nữ thanh niên; tiến hành sửa đổi, bổ sung một số văn bản của tổ chức Đoàn nhằm tăng cường sự tham gia của nữ cán bộ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo trong hệ thống Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; chỉ đạo các cấp bộ Đoàn đưa nội dung về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ nữ thanh niên vào nội dung sinh hoạt chi đoàn định kỳ hàng tháng…
Các Bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ tại đơn vị, địa phương mình, như: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông – Vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Dân vận Trung ương Đảng, Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao và các địa phương: Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bắc Kạn, Bến Tre, Bình Dương, Cao Bằng, Đắk Lắk, Hà Giang, Khánh Hòa, Kiên Giang, Đồng Nai, Long An, Yên Bái, Trà Vinh, Lạng Sơn, Lâm Đồng, Kon Tum, Quảng Nam, Thái Bình, Cần Thơ.

2. Công tác thường xuyên của UBQG
a) Công tác tổ chức
- Theo kế hoạch, UBQG đã ban hành văn bản hướng dẫn hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2011 đối với các Bộ, ngành và tỉnh, thành phố (Văn bản số 12/UBQG-VP ngày 17/3/2011). Nội dung bản hướng dẫn tập trung vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hành động hàng năm và 5 năm để triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới; đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành, đặc biệt trong việc lồng ghép các vấn đề về bình đẳng giới trong công tác hoạch định chính sách của các Bộ, ngành, địa phương.
- Thực hiện Quy chế làm việc, UBQG đã tổ chức Hội nghị thường kỳ sơ kết hoạt động 8 tháng đầu năm và bàn kế hoạch công tác các tháng cuối năm 2011. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Chủ tịch UBQG đã bàn giao vai trò Chủ tịch UBQG cho đồng chí Phạm Thị Hải Chuyền, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
- Chế độ thông tin với Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các Bộ, ngành và tỉnh, thành phố đã được UBQG duy trì tốt trong thời gian qua. Ngay sau khi kết thúc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016, Văn phòng UBQG đã có Công văn số 41/UBQG-VP ngày 12/9/2011 đề nghị Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các Bộ, ngành và tỉnh, thành phố đăng ký nhân sự thường trực Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ để kịp thời nắm thông tin, phục vụ cho việc liên hệ công tác.
- Trong năm vừa qua, thành viên UBQG cũng có sự thay đổi. Đồng chí Phạm Thị Hải Chuyền được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và đảm nhiệm vai trò Chủ tịch UBQG. Đồng chí Nguyễn Ngọc Lâm – Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương được phân công thay đồng chí Trần Lưu Hải. Đồng chí Đặng Văn Hiếu - Thứ trưởng thường trực Bộ Công an được phân công thay đồng chí Nguyễn Khánh Toàn. Đồng chí Lều Vũ Điều – Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam được phân công thay đồng chí Bùi Thị Minh Hoài. Đồng chí Nguyễn Phương Nga - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao được phân công thay đồng chí Đào Việt Trung. Đồng chí Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế được phân công thay đồng chí Nguyễn Bá Thuỷ. Đồng chí Nguyễn Tiến Dĩnh - Thứ trưởng Bộ Nội vụ được phân công thay đồng chí Nguyễn Duy Thăng. Đồng chí Lâm Phương Thanh, nguyên Bí thư thường trực Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã chuyển công tác khác, hiện nay Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chưa phân công được người thay thế.

b) Công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn
Tuyên truyền cho bầu cử Quốc hội khoá XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016 là hoạt động trọng tâm trong công tác tuyên truyền của UBQG. Bên cạnh đó, UBQG đã chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai công tác tuyên truyền, tập huấn về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về lĩnh vực này. Cụ thể là:
- Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị toàn quốc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày 22/4/2011 tại Thành phố Cần Thơ.
- Phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tỉnh uỷ Vĩnh Long tổ chức Hội nghị: “Nâng cao đóng góp của phụ nữ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ triển khai chủ trương hội nhập quốc tế và chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020”. Hội nghị tập trung bàn về việc triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trao đổi kinh nghiệm quốc tế trong triển khai hoạt động bình đẳng giới và nâng cao đóng góp của phụ nữ.
- Duy trì các cuộc họp Mạng lưới cán bộ tham mưu, tư vấn về giới định kỳ hàng quý; xuất bản Bản tin Phụ nữ và Tiến bộ bằng tiếng Việt và tiếng Anh; duy trì và nâng cấp website của UBQG, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật chủ trương, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ cũng như trao đổi rộng rãi tin tức với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác thông tin.

c) Công tác kiểm tra
Thực hiện Chương trình công tác năm 2011, ngày 11/3/2011, UBQG đã ban hành Kế hoạch kiểm tra hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ tại 03 Bộ, ngành và 07 tỉnh, thành phố (Kế hoạch số 07/KHKT-UBQG ngày 11/3/2011). Tính đến ngày 31/12/2011, UBQG đã tổ chức được 08 đoàn đi kiểm tra hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ tại 02 Bộ, ngành và 06 tỉnh, thành phố, gồm: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Viện Di truyền nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tỉnh Bình Dương, Kon Tum, Quảng Ngãi, Đồng Nai, Lạng Sơn, Lào Cai. Ngoài ra, đồng chí Nguyễn Thanh Hòa, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Phó Chủ tịch UBQG đã kết hợp kiểm tra công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ trong đợt làm việc với các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng và Cần Thơ. Như vậy, có tổng số 12 đơn vị đã được kiểm tra trong năm 2011. Tuy nhiên, so với kế hoạch đề ra, vẫn còn 02 đoàn kiểm tra của các đồng chí lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Văn phòng Chính phủ chưa được thực hiện.
Kết quả kiểm tra cho thấy, hầu hết các đơn vị đã xây dựng được Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 để thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020. Việc thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực lao động- việc làm, giáo dục, y tế đã có những tiến bộ rõ rệt, một số đơn vị đã ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ nữ tham gia đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Công tác tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức của người dân đã được các đơn vị tập trung triển khai trong thời gian qua... Bên cạnh những thành tựu đạt được thì một số khó khăn, tồn tại chung trong công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ của các Bộ, ngành, địa phương hiện nay là: nhận thức của một số lãnh đạo vẫn cho đây là công tác của Hội phụ nữ mà không phải của chính quyền nên chưa dành sự quan tâm đúng mức; công tác phối hợp liên ngành về lĩnh vực này còn rất hạn chế; một số đơn vị còn lúng túng trong việc xây dựng KHHĐ về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 vừa đáp ứng yêu cầu của Chiến lược, vừa đảm bảo khắc phục được những vấn đề bất bình đẳng giới ở địa phương mình; hầu hết cán bộ làm công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ đều kiêm nhiệm, chưa phát huy được vai trò tham mưu nên hoạt động ở một số đơn vị vẫn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao; các chỉ tiêu về thúc đẩy tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đều chưa đạt ở hầu hết các đơn vị được kiểm tra; một số tệ nạn xã hội gây tác động tiêu cực tới sự tiến bộ của phụ nữ như bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em vẫn chưa có chiều hướng giảm...

d) Một số hoạt động khác
Cơ quan thường trực của UBQG là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tích cực duy trì và mở rộng hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế nhằm thu hút sự hỗ trợ cả về kỹ thuật và kinh phí để từng bước nâng cao chất lượng công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ. Điển hình là các hoạt động sau đây:
- Phối hợp với các cơ quan của Liên hợp quốc (LHQ) tại Việt Nam tổ chức các diễn đàn, hội thảo, tập huấn về bình đẳng giới như: Diễn đàn “Đối thoại chính sách về bình đẳng giới” được tổ chức nhân dịp ngày Quốc tế phụ nữ đã thu hút hơn 150 đại diện các cơ quan Chính phủ, các tổ chức quốc tế và các cơ quan nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ hoạt động về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ tham gia; 85 đại biểu từ các Bộ, ngành và tỉnh, thành trong cả nước đã tham dự Diễn đàn về tăng cường xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, chương trình có trách nhiệm giới tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên; hơn 270 lượt cán bộ làm công tác về bình đẳng giới từ Trung ương tới địa phương đã tham dự 04 hội thảo tập huấn về xây dựng và thực hiện kế hoạch về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 và 03 Khóa tập huấn về giới và biến đổi khí hậu...
- Phối hợp với Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) triển khai các hội thảo, tập huấn, tọa đàm nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về quyền bình đẳng của phụ nữ, đặc biệt là trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Cụ thể như: tổ chức 04 khoá tập huấn về Công ước CEDAW và chính sách, pháp luật Việt Nam tại các tỉnh Đồng Nai, Sóc Trăng, Ninh Thuận và Hải Dương với sự tham gia của trên 300 đại biểu là cán bộ phụ trách bình đẳng giới và các lĩnh vực liên quan tại các Sở, ngành ở cấp tỉnh và một số đại diện của cấp huyện, cấp xã; nghiên cứu, xây dựng các mô hình Nhóm tư vấn cộng đồng nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu các hệ lụy của tình trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài...
- Phối hợp với Tổ chức Hoà bình và Phát triển Tây Ban Nha tại Việt Nam (PyD) tổ chức các hoạt động tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức về Công ước CEDAW và pháp luật về bình đẳng giới, góp phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, tiến tới thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020, như: tổ chức Hội nghị tập huấn tại Đà Nẵng cho cán bộ làm công tác thanh tra tại các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trong cả nước về nâng cao năng lực giám sát việc thực hiện Công ước CEDAW và pháp luật bình đẳng giới; tổ chức Hội thảo về Công ước CEDAW và sự tham gia của phụ nữ trong các vị trí quản lý lãnh đạo tại Cà Mau; xuất bản tờ rơi về quyền của phụ nữ trong chính trị và đời sống xã hội cộng đồng bằng tiếng Việt và tiếng Khmer ...
- Phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (World Bank Vietnam) tổ chức 03 Hội thảo giới thiệu Báo cáo đánh giá tình hình Giới của Việt Nam tại 3 miền Bắc, Trung, Nam với sự tham gia của trên 300 đại biểu đến từ các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế hoạt động về bình đẳng giới và các tổ chức đoàn thể, các sở, ban, ngành từ các tỉnh, thành phố trên cả nước.
- UBQG và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và cơ quan LHQ về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ tổ chức thúc đẩy thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020. 120 đại biểu tham dự Diễn đàn đã tập trung trao đổi và thảo luận để đề xuất các phương hướng và giải pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia trong hệ thống của Tổng liên đoàn Lao động từ Trung ương tới địa phương.  
- Cuộc họp định kỳ của nhóm Đối tác hành động về giới (GAP) được duy trì hàng quý với sự tham gia của hơn 80 đại diện từ một số Bộ, ngành, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đang hoạt động về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình.
Bên cạnh những hoạt động nêu trên, UBQG và cơ quan thường trực là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã cử đại diện tham gia các Hội nghị, Hội thảo và tập huấn quốc tế nhằm tìm hiểu, chia sẻ những thành tựu cũng như những mô hình thúc đẩy vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới của các quốc gia trên thế giới, như:
- Đoàn công tác do Chủ tịch UBQG Phạm Thị Hải Chuyền làm Trưởng đoàn và Phó Chủ tịch UBQG Nguyễn Thị Thanh Hòa đã tham gia khóa họp cấp cao lần thứ 10 của APEC được tổ chức tại Sanfrancisco, Mỹ (tháng 9/2011).
- Tháng 3/2011, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã cử đại diện tham gia khoá họp lần thứ 55 của Uỷ ban địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW) tại New York. Chủ đề của khoá họp là “Quyền tiếp cận và tham gia của phụ nữ và trẻ em gái trong giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, kể cả việc thúc đẩy quyền của phụ nữ được tiếp cận đối với việc làm đầy đủ và tử tế”. Tại cuộc họp, đoàn công tác đã trao đổi về những thành tựu trong hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới của Việt Nam, đồng thời học hỏi và tiếp thu những nội dung cập nhật về công tác này do Uỷ ban địa vị phụ nữ hướng dẫn. Bên cạnh đó, Đoàn cũng tăng cường trao đổi với các thành viên của các quốc gia khác bên lề khoá họp.
- Các cơ quan thành viên UBQG cũng cử cán bộ tham gia các cuộc Hội nghị, Hội thảo, học tập kinh nghiệm... do các nước bạn tổ chức liên quan đến nhân quyền, phụ nữ và bình đẳng giới tại Thái Lan, Singapore, Campuchia, Indonesia, Philipin... Đây vừa là cơ hội để các cán bộ được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, vừa thể hiện sự quan tâm tới hoạt động của nước bạn, làm tiền đề cho công tác phối hợp trong các hoạt động vì tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới sau này.

3. Đánh giá chung
Năm 2011, về cơ bản, UBQG đã thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ đề ra, góp phần tác động tích cực tới việc thúc đẩy bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ trong cả nước.

a) Mặt được
- Các Bộ, ngành, địa phương đã thực sự vào cuộc, tiêu biểu nhất là việc tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, chính sách... tạo nên sự đồng bộ trong các chính sách, pháp luật về giới, bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ.
- Bộ máy Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ được củng cố với sự hợp lực của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, tạo thuận lợi cho sự vận hành mang tính hệ thống.

b) Hạn chế
- Ý thức trách nhiệm về công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ của một số đơn vị, địa phương còn chưa cao.
- Vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là trong quản lý, lãnh đạo còn hạn chế, thể hiện rõ nhất ở kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.
- Hầu hết các lớp tập huấn về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ chủ yếu là nữ tham dự và phần đông là cán bộ thường trực, thư ký Ban VSTBPN, thiếu sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo đơn vị, địa phương.
- Biên chế chuyên trách cho công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở nhiều nơi chưa được bố trí, làm hạn chế chất lượng công tác tham mưu và triển khai thực hiện các hoạt động về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ ở ngành, địa phương. Bên cạnh đó, nguồn lực kinh phí hạn hẹp, chưa đủ để triển khai các hoạt động đề ra, dẫn tới hoạt động ở một số đơn vị, địa phương còn mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất.
- Việc chủ động thực hiện theo Quy chế về chế độ báo cáo định kỳ của các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ chưa tốt, gây khó khăn cho công tác theo dõi, tổng hợp thông tin của UBQG.
- Việc tham gia họp và tổ chức kiểm tra của các thành viên UBQG chưa được quan tâm một cách đúng mức, ảnh hưởng tới việc đảm bảo kế hoạch chung.

B. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2012
I. Đẩy mạnh việc xây dựng cơ chế chính sách thực hiện Luật, Chiến lược, Chương trình quốc gia về bình đẳng giới
 Các Bộ, ngành thành viên UBQG tập trung thúc đẩy việc ban hành các cơ chế, chính sách nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Bình đẳng giới cũng như Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015, trong đó:

1.     Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015. Theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020. Xây dựng tiêu chí theo dõi, đánh giá việc thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015.
- Phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn về cơ chế quản lý, phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015; hướng dẫn các địa phương thực hiện các dự án được phân công trong Chương trình quốc gia.
- Tổ chức đánh giá 5 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới; 3 năm thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 11 NQ/TƯ của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước.
- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch tuyên truyền, giáo dục về Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thông qua các lớp tập huấn, các phương tiện thông tin đại chúng một cách thiết thực, phù hợp với từng ngành, địa phương và đối tượng cụ thể để tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về bình đẳng giới đối với toàn xã hội; hướng dẫn và triển khai chiến dịch truyền thông nhân kỷ niệm 5 năm ngày Luật Bình đẳng giới có hiệu lực thi hành.
- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ cho các Bộ, ngành địa phương.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về giới.

2. Bộ Tài chính
- Khẩn trương xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn về cơ chế quản lý, phân bổ kinh phí thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015;
- Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức triển khai và hướng dẫn các địa phương thực hiện Thông tư trên sau khi được ban hành.

3.Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện Quyết định số 56/2011/QĐ-TTg ngày 14/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia.
- Đẩy mạnh việc lồng ghép giới vào các Chương trình mục tiêu quốc gia và các Chương trình, dự án khác trong quá trình thẩm định các Chương trình, dự án trước khi thông qua hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

4. Bộ Tư pháp
- Thực hiện tốt trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, như:
+ Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
+ Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến;
+ Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Xây dựng và ban hành bộ công cụ và bộ tiêu chuẩn về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp trong việc đánh giá lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

5. Bộ Nội vụ
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan hướng dẫn các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định và bố trí đủ biên chế công chức làm công tác bình đẳng giới quy định tại Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020.
- Xây dựng, trình Chính phủ ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định về quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ, tỷ lệ nữ để bổ nhiệm các chức danh trong các cơ quan nhà nước; rà soát, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định về tuổi bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng nữ cán bộ, công chức, viên chức; chủ trì quản lý và tổ chức thực hiện Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp; nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2020, nữ cán bộ thuộc diện quy hoạch (Dự án 3) với các hoạt động đã được phân công trong Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015.

6. Bộ Thông tin và Truyền thông
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh và đổi mới các hoạt động truyền thông, giáo dục về chủ trương, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản có nội dung định kiến giới.
- Chủ trì thực hiện Tiểu Đề án: Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng (giai đoạn 2010 -2015) đã được phân công tại Quyết định số 343/QĐ-TTg ngày 12/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Giai đoạn 2010- 2015)".

7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra và quản lý chặt chẽ các sản phẩm văn hóa, hoạt động giải trí đảm bảo không mang định kiến giới; chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ phòng, chống bạo lực gia đình trên cơ sở giới; chủ trì quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động đã được phân công trong Chương trình theo quy định hiện hành.
- Chủ trì xây dựng và thực hiện Tiểu Đề án: Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch (giai đoạn 2010 - 2015) đã được phân công tại Quyết định số 343/QĐ-TTg ngày 12/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Giai đoạn 2010- 2015)".

  8. Bộ Y tế
- Tổ chức triển khai Chiến lược Dân số - Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 đã được phê duyệt; đẩy mạnh công tác tuyên truyền cảnh báo và chủ động kiểm soát, giải quyết các nguyên nhân sâu xa làm mất cân bằng giới tính ở trẻ sơ sinh.
- Xây dựng và trình ban hành chính sách hỗ trợ chăm sóc y tế cho một số phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt cư trú ở vùng sâu, vùng xa, đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số sinh con đúng chính sách dân số theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009.

9. Bộ Ngoại giao phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị tốt cho Đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu tổ chức tại Hy Lạp vào tháng 5/2012.

10. Ủy ban Dân tộc
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, vận động thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số.
- Chủ trì hướng dẫn thực hiện Mô hình thí điểm về dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về bình đẳng giới tại 30 xã, phường, thị trấn ở miền núi, vùng cao cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được phân công trong Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015; vận động đồng bào dân tộc thiểu số phát huy các phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của dân tộc phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.

11. Các Bộ, ngành thành viên khác của UBQG căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật; Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ xây dựng Kế hoạch và tổ chức thực hiện đảm bảo chất lượng và tiến độ.

II. Trong công tác phối hợp liên ngành
 1. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức và đôn đốc việc triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015.
2. Tiếp tục đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc, đúng tiến độ Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiến hành một số hoạt động nhằm tăng cường công tác cán bộ nữ tại các Bộ, ngành, địa phương:
- Nghiên cứu, đánh giá tác động của hệ thống thể chế, chính sách đối với cán bộ nữ.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp và công tác cán bộ nữ từ Trung ương đến địa phương.
- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các cơ quan ở trung ương có trách nhiệm trong công tác hoạch định, tổ chức triển khai các chính sách tác động trực tiếp đến công tác cán bộ nữ.

III. Tiếp tục duy trì và phát triển các hoạt động thường xuyên của UBQG
1. Phối hợp với các Bộ, ngành chức năng xây dựng đề án hướng dẫn kiện toàn tổ chức và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đối với các Bộ, ngành, các cơ quan trung ương của các Tổ chức chính trị - xã hội, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân...
2. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn về luật pháp, chính sách về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ.
3. Tiếp tục triển khai kế hoạch kiểm tra việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới.
4. Tăng cường và đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế về bình đẳng giới.
Trên đây là báo cáo kết quả công tác năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam xin báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
 
                                                              
 
 
Nơi nhận:
- Thủ tướng CP (để báo cáo);
- Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (để báo cáo);
- Các đồng chí thành viên UBQG;
- Văn phòng Chính phủ;
- Ban VSTBPN các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Lưu: VT, VP UBQG.
CHỦ TỊCH
 
 
 
 
BỘ TRƯỞNG
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Phạm Thị Hải Chuyền
 


[1] Báo cáo phát triển con người năm 2011, UNDP. (năm 2010, Việt Nam đứng thứ 58/138 quốc gia được xếp hạng về chỉ số bất bình đẳng giới trên thế giới).



Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Tin theo ngày Xem
Về đầu